Đơn vị quản lý và điều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp .
Buồng 206, Tầng II , Khoa Khám Bệnh, Bệnh viện Bạch Mai.
Tel: 04.5763520
Mobi: 0903.226929
Email: info@tanghuyetap.com
Có 7 khách đang xem
Lượt khách: 612
 
 
 
 
Những tình trạng đặc biệt

Người cao tuổi:

          Người cao tuổi có nhiều nguy cơ khác, tổn thương các cơ quan địch và bệnh tim mạch đi kèm mà sự lựa chọn cho thuốc phải phù hợp với tình trạng đó. Cần phải đo huyết áp ở tư thế ngồi và tư thế đứng để phát hiện hạ huyết áp tư thế và tác dụng phụ của thuốc gây hạ huyết áp khi đứng.

          Quan niệm phổ biến trước đây (quan niệm không đúng) cho rằng tăng huyết áp theo tuổi là điều không thể tránh được và vô hại, và tăng huyết áp tâm thu đơn thuần không có ý nghĩa về mặt lâm sà ng, nhưng thực chất là bạn đã bị bệnh tăng huyết áp và có nhiều nguy cơ gây ra các biến chứng.

          Nói chung, bệnh nhân cao tuổi cũng dung những thuốc chống tăng huyết áp như ở bệnh nhân còn trẻ. Tuy vậy, nên điều trị với liều thấp hơn.

          Bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ bị bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn các bệnh nhân còn trẻ. Điều trị hạ huyết áp có thể làm giảm nguy cơ này. Việc lựa chọn thuốc tăng huyết áp phải dựa vào khả năng của thuốc có tác dụng:

-         Giảm huyết áp kéo dài 24 giờ.

-         Tác dụng tích cực trên phì đại tâm thất trái.

Người rất cao tuổi: (> 80 tuổi)

Điều trị tăng huyết áp ở nhóm tuổi này cũng mang lại những lợi ích rõ rà ng và làm giảm 1 cách có ý nghĩa về nguy cơ đột quỵ và suy tim.

          Tăng huyết áp nhẹ và vừa không cần dung thuốc ngay, cần điều chỉnh lối sống như ăn hạn chế muối, kiểm soát cân nặng và tập thể dục đều.

          Khi huyết áp tâm thu > 160 mmHg hay huyết áp tâm trương > 90 mmHg thì phải dung thuốc để hạ huyết áp. Tuy vậy, nên điều trị kể cả khi bệnh nhân có mức huyết áp thấp hơn nếu có các biến chứng tim mạch hoặc băng chứng tổn thương cơ quan đích, bằng chứng về bệnh tiểu đường.

    Phì đại thất trái:

          Khoảng 1/3 số bệnh nhân tăng huyết áp có phì đại thất trái. Phì đại thất trái là một trong những biểu hiện thường gặp nhất của tổn thương cơ quan đích trong tăng huyết áp và làm tăng tỷ lệ suy tim, nhồi máu cơ tim và đột quỵ lên 6 lần. Chẩn đoán phì đại thất trái có thể dựa vào điện tâm đồ hay siêu âm tim (bình thường chỉ số khối cơ thất trái < 130 g/m2 ở nam giới, < 110 g/m2 ở nữ giới).

 

    Tiểu đường:

          Tăng huyết áp rất thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường (71% bệnh nhân tiểu đường týp 2). Sự đồng thời hiện diện của cả tăng huyết áp và tiểu đường làm tăng nguy cơ bị các bệnh mạch máu lớn, bao gồm đột quỵ, bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu ngoại biên và tăng tỷ lệ tử vong. Nên thường xuyên dung một thuốc ức chế men chuyển hay một thuốc đối kháng angiotensin II.

 

    Bệnh lý mạch máu não kèm theo

          Có nhiều bằng chứng cho thấy lợi ích của điều trị thuốc hạ áp trên bệnh nhân đã bị tai biến mạch máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Tuy nhiên, thầy thuốc sẽ quyết định hạ huyết áp đến mức nào và hạ xuống như thế nào.

 

    Bệnh mạch vành và suy tim kèm theo

25% nguy cơ phát sinh bệnh mạch vành là do tăng huyết áp.

          Tăng huyết áp có phì đại thất trái làm tăng nguy cơ suy tim lên 4 – 6 lần. Suy tim có thể xảy ra do rối loạn chức năng tâm trương (giảm khả năng giãn ra của tâm thất trái) hoặc rối loạn chức năng tâm thu (giảm khả năng co bóp của tâm thất trái). Kiểm soát tốt huyết áp với các biện pháp dù ng thuốc hoặc thay đổi lối sống có thể làm giảm khối cơ thất trái.

          Điều trị hạ huyết áp và đặc biệt là bằng thuốc ức chế men chuyển (hay thuốc ức chế thụ thể angiotensin II khi thuốc ức chế men chuyển có tác dụng phụ) làm giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, phòng ngừa suy tim ứ huyết và kéo dài tuổi thọ của các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp có suy tim.

 Bệnh nhân có suy thận: 

          Bệnh nhân bị tăng huyết áp vô căn rất hay gặp có tổn thương thận phối hợp.

          Bảo vệ thận ở bệnh nhân tiểu đường bằng cách kiểm soát chặt chẽ huyết áp (<130/80 mmHg và thấp hơn nếu đạm niệu > 1 g/ngày), giảm đạm niệu bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II nếu không có chống chỉ định.

          Để đạt huyết áp mục tiêu thường cần điều trị phối hợp them thuốc lợi tiểu và thuốc đổi kháng kênh canxi.

    Người  có thai: 

          Tăng huyết áp ở người có thai làm tăng nguy cơ tử vong của cả mẹ, thai nhi và trẻ nhũ nhi. Về mặt sinh lý, huyết áp bình thường sẽ hạ xuống khoảng 15 mmHg vào 3 tháng giữa của thai kỳ. Vào 3 tháng cuối huyết áp sẽ trở về như mức bình thường như trước khi có thai hay thậm chí cao hơn. Bạn bị tăng huyết áp thai kỳ khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg.

          Việc dùng thuốc trong tăng huyết áp thai kỳ phải hết sức thận trọng. Không nên ăn hạn chế muối, không ăn chế độ giảm cân vì sẽ làm giảm tăng trưởng của chế độ thai nhi. Nuôi con bằng sữa mẹ không làm tăng huyết áp. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc hạ huyết áp tùy thuộc mức độ sẽ được bài tiết qua sữa mẹ, cho nên cần chú ý không cho con bú khi mẹ phải dùng các thuốc gây độc chi nhũ nhi.

CHUNG SỐNG HOÀ BÌNH VỚI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Bệnh tăng huyết áp

+

Điều trị đúng

 

=

 

Sức khỏe

+ Hạnh phúc +

Tuổi thọ

Nếu như bạn bị tăng huyết áp và cần điều trị:

·        Hãy bắt đầu và tiếp tục điều trị ngay cả những khi bạn “cảm thấy khỏe ” bởi vì tăng huyết áp có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng nếu như không được điều trị tốt và đúng cách. Hãy uống thuốc đều mỗi ngày vào một thời gian nhất định.

·        Hãy nhớ rằng việc kiểm soát huyết áp mang lại cho bạn nhiều điều lợi quan trọng hơn nhiều so với một số tác dụng phụ nhẹ và tạm thời có thể gây ra do thuốc.

·        Đừng nản chí vì việc bạn có thể dung thuốc suốt đời.

·        Tập và duy trì những thói quen có lợi trong chế độ ăn uống hay sinh hoạt để có thể làm giảm hoặc không phải dung thuốc hạ áp.

·        Hãy cải thiện sức khỏe về thể chất cũng như tinh thần và quan trọng hơn cả là: Hãy tự mình sống một cuộc sống lành mạnh hơn và lâu dài hơn.

Tư vấn của: Tanghuyetap.com

ciputra housing for rent hanoi villas rentals máy bơm công nghiệp